Việt Nam rơi vào thế ‘lưỡng đầu thọ địch’ năm 1979

0

Sáng 15/2, lần đầu tiên hội thảo cấp quốc gia về Cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc 1979 được Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội và Hội sử học Việt Nam tổ chức sau 40 năm. 300 đại biểu tham dự chủ yếu là các nhà khoa học nghiên cứu lịch sử hiện đại, tướng lĩnh quân đội, cựu chiến binh.  

Hơn 60 tham luận được chuẩn bị kỹ lưỡng, tập trung phân tích nguyên nhân sâu xa và những toan tính của Bắc Kinh khi gây chiến, bài học từ cuộc chiến. Hầu hết đại biểu đều thống nhất tính chất sự kiện lịch sử này là cuộc chiến tranh vệ quốc chống quân Trung Quốc xâm lược.

PGS Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội sử học Việt Nam phân tích, sau năm 1975, Việt Nam bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ với “thân mình đầy thương tích khi hàng triệu người bị chết, bị thương, hàng nghìn thành phố, làng mạc bị phá huỷ”.

Vậy nên, cuộc tấn công xâm lược Việt Nam của Trung Quốc “đã đẩy Việt Nam vào thế lưỡng đầu thọ địch”, trong khi đang bị Mỹ và các nước phương Tây cấm vận và tiêu diệt tàn dư Pol Pot ở Campuchia. Ông so sánh giai đoạn tháng 2/1979, nước ta rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” không khác năm 1945-1946. 

Cuộc xâm lược Việt Nam của quân đội Trung Quốc làm thế giới sửng sốt. Bởi từ chỗ là đồng minh trong “chiến tranh lạnh”, nhà cầm quyền Trung Quốc đã coi Việt Nam là kẻ thủ.

“Người bình thường trên thế giới không ai nghĩ rằng một dân tộc vừa trải qua 30 năm chiến tranh với thương tích đầy mình và có biết bao công việc phải làm để xây dựng lại đất nước lại đi khiêu khích rồi xâm lược một nước khác – lại là một nước lớn hơn, thậm chí từng là đồng minh trong hai cuộc kháng chiến trước đó”, ông Trần Đức Cường lập luận phản bác quan điểm của nhiều học giả Trung Quốc cho rằng cuộc chiến tranh chống Việt Nam chỉ là “phản công tự vệ”.

PGS Trần Đức Cường. Ảnh: Gia Chính 

PGS Trần Đức Cường. Ảnh: Gia Chính 

Làm rõ hơn khó khăn của Việt Nam khi đó, PGS Nguyễn Văn Nhật (Hội sử học) dẫn chứng, cuối năm 1978, đúng lúc quan hệ Việt Nam – Trung Quốc xấu đi thì Pol Pot bắt đầu leo thang quân sự, xâm lấn các tỉnh biên giới Tây Nam. Trung Quốc còn tăng viện trợ, cung cấp vũ khí, xe tăng, gửi cố vấn quân sự hỗ trợ Pol Pot. 

Khi Việt Nam phản công Pol Pot ở biên giới Tây Nam thì Đặng Tiểu Bình thăm các nước Đông Nam Á và tuyên bố “phải dạy cho Việt Nam một bài học”. Ngày 27/1/1979, Nhân dân nhật báo viết: “Sự thất thủ của Phnom Penh không có nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ là khởi đầu”.

Để cô lập Việt Nam, tháng 1/1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ rồi thăm Nhật, thông báo ý định tấn công Việt Nam và mong muốn sự hỗ trợ tinh thần từ các nước này. 

“Hai tuần sau chuyến thăm, Đại sứ Mỹ Malcolm kín đáo khuyến cáo ngoại trưởng Liên Xô Gromyko “tự kiềm chế trong trường hợp Trung Quốc tấn công Việt Nam để không ảnh hưởng đến việc Quốc hội Mỹ thông qua hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược (SALT)”, ông Nhật nói rõ hơn về tác động chuyến thăm của Đặng Tiểu Bình tới Mỹ nhằm cô lập Việt Nam. 

Tại hội thảo, GS Đinh Xuân Dũng có bài phát biểu cảm động về trăn trở thực hiện chế độ, chính sách với người có công trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. 

“Trên đường quốc lộ lên Hà Giang, tôi thấy dọc hai bên đường là hai hàng quan tài xếp dài đến hàng trăm mét. Đứng cạnh là người thân của những người lính đã ngã xuống”, ông kể lại nỗi ám ảnh trong một lần thực tế ở Vị Xuyên.

Trên chiến địa, nhiều chiến sĩ trẻ cắm chốt nhiều ngày, chỉ mặc một cái quần, râu tóc dài như “cụ non” vì chiến đấu không kịp cắt. 

GS Đinh Xuân Dũng. Ảnh: Gia Chính 

Ông vẫn nhớ mãi lời một chiến sĩ nói với ông: “Bọn em như những con thằn lằn bám vào đá để sống và bảo vệ bằng được từng mỏm đá, mỏm núi của biên cương Tổ quốc”.

Đế nay, khoảng 4.000 hài cốt chiến sĩ chưa được tìm thấy hoặc không thể quy tập bởi rất nhiều mìn còn găm lại chiến địa xưa. “Tôi day dứt vì còn mắc nợ những người đã hy sinh ở chiến trường ác liệt, thầm lặng và dai dẳng ấy”, ông Dũng nói.

Theo ông, những năm qua Đảng, Nhà nước đã có nhiều chính sách tri ân, đền ơn những người đã chiến đấu ở biên giới phía Bắc. 250.000 người được trợ cấp một lần và hơn 300 người được trợ cấp hàng tháng. Hơn 100.000 người là dân công hoả tuyến phục vụ chiến đấu ở biên giới phía Bắc đã được giải quyết chế độ một lần. Hơn 30.000 người được thưởng huân chương chiến công vì có thành tích tham gia chiến đấu ở biên giới phía Bắc, các bà mẹ Việt Nam anh hùng được nhà nước xây dựng nhà ở, tri ân…

Nhưng ông còn mơ ước Nhà nước có chính sách quyết tâm tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ ở biên giới phía Bắc. “Chúng tôi khát khao mong như vậy”, ông Dũng kết thúc bài chia sẻ. 

Rạng sáng 17/ 2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa quân tràn qua biên giới, đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) với chiều dài 1.200 km.

Theo Niên giám châu Á năm 1980, thời điểm Trung Quốc tấn công, tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc khoảng 50.000 quân. Trong khi đó, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập; 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn với khoảng 600.000 người, gấp hơn 10 lần lực lượng tham chiến thực tế của Việt Nam.

Ngày 5/3/1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Trung Quốc tuyên bố “hoàn thành mục tiêu chiến tranh” và rút quân. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn chiếm đóng trái phép một số điểm cao ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, thường xuyên gây xung đột vũ trang. Đến năm 1989, cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược mới kết thúc.

Viết Tuân